Thứ Năm, 10 tháng 3, 2016

VÒNG KÝ ỨC THÁNG BA



Truyện ngắn của Phan Trang Hy ( Phan Thanh Bình K5)


       Hải bặm môi, trở mình. Mấy hôm nay trở trời, nằm trên giường nệm, anh vẫn thấy ê ẩm cả người. Vết thương ngày nào, giờ, tái phát. Nhưng anh gắng gượng. Anh phải cố sức để vẽ cho xong bức tranh về đồng đội anh ngày nào, về một thời đã ám ảnh anh trong từng hơi thở, trong từng mảng màu, nét cọ mà anh thao thức.

       Anh khó nhọc chống cùi ngồi dậy. Miệng khô khốc. Anh nuốt nước bọt. Chỉ có sự rát đau ở họng. Anh đưa miệng ngậm chiếc ống nhựa, hút nước ở ly.

       Uống nước xong, anh lại định thần, gắng hít thở thật mạnh. Tựa lưng vào chiếc gối, anh nhìn bức tranh còn dang dở. Hình ảnh đồng đội của anh lại hiện về.

       Nhớ lại ngày ấy, anh cùng đồng đội xây dựng đảo. Chiến dịch CQ88 được phát. Nhận lệnh là đi. Chỉ có trái tim vì biển, vì đảo. Không phải là những câu khẩu hiệu tuyên truyền mà chính là mệnh lệnh của trái tim, của tình yêu biển đảo đã đưa anh cùng đồng đội đến với Gạc Ma.

       Nhìn bức tranh, anh như thấy từng người. Này là Quân, lính trẻ nhất đơn vị, thích nghe anh nói chuyện về những cô gái ở làng biển quê Quảng Nam. Này là Nhơn, người lúc nào cũng thích ca bài chòi. Cựa một tí là ca. Dù chẳng có hơi xuống giọng xề. Thế nhưng, mỗi lần rảnh là ca. Anh em trong đơn vị thích cái tính xuề xòa của Nhơn nên cũng thích luôn những lời ca dân dã ấy. Này là anh Phương, chỉ huy, coi anh em như ruột thịt. Còn biết bao nhiêu người nữa. Họ trong tranh như cười động viên anh vượt qua cơn đau.

       Nhìn tranh, anh nhớ lại ngày ấy...

       Trời hửng sáng. Biển vẫn trong xanh. Cả đơn vị đang ra sức xây dựng đảo. Yên bình trên từng lời bông đùa của đồng đội. Yên bình trên từng con sóng. Hải như nghe được lời của Nhơn ca: “Đảo này là của chúng ta. Ngàn năm ta giữ nước nhà Việt Nam...”. Tiếng vỗ tay vang lên. Chưa kịp cười đùa cho thỏa thích, Hải bỗng nghe tiếng loa. Lởn vởn tàu của giặc. Chúng bắt loa gọi đơn vị anh rời đảo. Nhưng lời của bọn giặc chẳng là cái quái gì. Cả đơn vị phớt lờ lời của giặc. Anh em được lệnh của anh Phương: “Phải bình tĩnh. Đảo là của ta, ta quyết giữ. Chúng ta giữ đảo là giữ đất Mẹ Việt Nam. Quyết không rời đảo!”. Lúc ấy, Hải như thấy tất cả đều có tâm niệm: “Quyết không rời đảo!”. Bọn giặc tìm cách khủng bố tinh thần của anh em. Rồi bất thần, bọn chúng xả súng về phía đơn vị anh.

        Hải không ngờ tình thế như vậy. Chỉ tiếng súng nổ. Và đạn bay... Chợt tiếng của Phương vang lên: “Tất cả nắm chặt tay nhau, kết thành vòng tròn. Quyết tâm bảo vệ đảo, bảo vệ cờ Tổ quốc!”. Đó cũng là mệnh lệnh của trái tim. Trong làn đạn của giặc, Hải và đồng đội siết tay thật chặt, kết thành vòng tròn, giữ cờ Tổ quốc. Lá cờ ngạo nghễ giữa biển trời. Giặc vẫn xả súng. Hải một tay nắm tay Nhơn, một tay nắm tay Quân. Và cứ thế vòng tròn vẫn vững trước đạn thù. Bỗng, Nhơn á lên một tiếng. Giọng Nhơn đứt quãng. Máu Nhơn! Nhơn bỏ tay Hải, quỵ xuống: “Anh Hải!... Hãy… trả thù… cho… em!”. Đạn giặc trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái… Đạn giặc bao vây đồng đội anh. Rồi, Quân cũng bị trúng đạn. Quân ngã trên người Hải, giọng phều phào: “Anh đưa… em… về quê… nghe!... Nói… với Mẹ… là em… em… nhớ Mẹ… lắm!... Còn chuyện… mấy đứa… con gái… làng chài quê anh...,… em xin… nói lời… vĩnh… biệt… với họ… Mẹ!... ”. Quân hy sinh trên tay anh. Anh chưa kịp nói lời nào thì lại nghe tiếng gào to. Đó là tiếng Phương. Tiếng của Phương hòa trong tiếng sóng: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo”. Đạn giặc bắn không ngừng. Hải thấy hai tay mình như có ai chém.

       Hai tay của Hải không còn. Trước mắt anh sừng sững lá cờ Tổ quốc cùng đồng đội. Mắt anh vẽ một khoảng không. Biển. Đảo. Đồng đội. Cờ Tổ quốc!...

                                                  *

                                               *      *

       Hải được giải đặc biệt về Biển đảo Quê hương, nhiều phóng viên đã đến tìm hiểu về cuộc đời anh. Bấy lâu nay, có ai biết đến Hải Trường Sa là ai đâu. Nhưng giờ đã khác. Bút danh Hải Trường Sa khẳng định với công chúng về tài năng hội họa.

       Tôi được Hội Văn học Nghệ thuật thành phố gửi giấy mời tham dự buổi khai mạc và trao giải thưởng. Vì bận việc đột xuất, nên tôi đến trễ. Chỉ được xem tranh là chính. May mắn cho tôi là được thưởng thức một số tranh dự thi đoạt giải cùng với một số tranh khác của những họa sĩ nổi tiếng trong nước.

       Sau khi xem từng bức tranh, tôi giành thời gian bên bức tranh đạt giải đặc biệt. Trước mắt tôi là bức tranh mang tên “Vòng ký ức Tháng Ba”. Và điều làm tôi ngạc nhiên là, bên cạnh bức tranh, một người không còn hai bàn tay. Đó chính là Hải Trường Sa, tác giả bức tranh ấy. Một số phóng viên đang phỏng vấn anh. Anh chỉ cười. Đứng cạnh Hải, tôi nghe anh trả lời:

       - Có gì đâu! Tôi không vẽ là tôi còn nợ với chính tôi. Tôi chỉ là người lính giữ đảo năm nào, giờ là như thế này đây - Anh cười và đưa hai cánh tay cụt - Cũng may cho tôi là chất lính một thời trong tôi giúp tôi vẽ. Còn đời tư tôi, xin các bạn thông cảm, tôi không muốn nói về mình. Chỉ thế thôi! 

       Nghe những gì anh trả lời, không hiểu anh ta khiêm tốn hay kiêu. Nhưng rồi, nhìn nụ cười hiền với tiếng nói đặc sệt chất giọng Quảng Nam, cùng với ánh mắt sáng tự tin, tôi tin lời anh nói.

       Và rồi, người xem tranh cũng bớt dần. Tôi đến làm quen Hải. Tôi tự giới thiệu về mình, là thầy giáo, nhà văn, thích xem tranh vẽ. Hải nhìn tôi cười. Và đưa cái cùi chỏ đụng vào bàn tay tôi lắc lắc.

       Từ đó trở đi, chúng tôi thành bạn của nhau. Những khi rảnh, tôi thường đến thăm Hải. Hoặc trao đổi qua facebook. Càng ngày chúng tôi càng thân nhau. Biết tính Hải không muốn nói về mình, nhưng tôi cũng hỏi chuyện riêng tư của Hải. Vì thân, mà đã là bạn thân cần gì phải dấu nhau điều gì, nên rồi Hải cũng tình thật kể cho tôi nghe.

       - Cậu biết không, hồi thanh niên, mình thích vẽ lắm. Nhìn những tranh của Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, rồi đến Đinh Cường, Bửu Chí, Rừng… là mình mê tít. Mình có một tập ảnh chụp lại các bức tranh mình thích. Nhìn những bức tranh ấy, nhiều lần, mình tưởng tượng các sắc màu trong các tranh ấy như muốn nói với mình: “Bạn cứ tin vào khả năng và tình yêu của chính mình thì mới có thể vẽ những tranh đẹp được”. Mình tin lời sắc màu nói với mình. Từ đó, ngoài chuyện học, mình lại lao vào việc mày mò, tìm hiểu về hội họa. Nào là cách tìm chủ đề, tìm bố cục, cách pha màu… Thú thật, mình thích vẽ từ nhỏ, lại có chút năng khiếu, nên mình vỡ lẽ ra là mình có thể vẽ những gì mình thích, những gì in đậm dấu ấn trong lòng mình.

       Hải nói như trút hết tâm trạng của mình. Tôi cầm cùi tay Hải, xoa xoa, nói:

       - Hèn gì! Phần thưởng cậu nhận xứng đáng với công sức của cậu.

       Hải kẹp ly nước lên uống. Rồi để xuống bàn. Tôi nhìn căn phòng xinh xắn, đầy những tranh. Có bức đã hoàn thành. Có bức chưa xong. Bên cạnh giá vẽ nào là những hộp sơn, lọ màu… Đủ cả. Tất cả đều gọn gàng. Nhìn căn phòng một hồi, Tôi khen:

       - Họa sĩ như cậu có khác! Nghiêm túc dữ.

       Hải nhìn tôi cười:

       - Sao cậu lại nói thế? Tại cái tính mình giờ nó thế. Quen rồi. Để mọi thứ lộn xộn, ngổn ngang, mình không chịu được. Cũng tại chất lính một thời tạo cho mình cái tính ấy. Thật ra, khi còn trẻ, trước khi vào lính mình cũng a-ma-tơ lắm.

       - Hồi trẻ, cậu nghệ sĩ lắm thì phải? Kể cho tôi nghe cậu tập như thế nào mà được như rứa?

       Hải cười to, tiếng vang như sóng biển:

       - Ừ, thanh niên đa phần là thế mà cậu. Bộ cậu không có à? Nhưng giờ, như cậu thấy đó, mình phải tự nghiêm túc với chính mình mà. Cũng nhờ làm lính đó.

       Như được dịp kể cho tôi nghe, Hải cho biết những năm tháng ở quân trường, anh phải tự điều chỉnh ghê lắm. Chớ thằng con trai nào không có chút máu nghệ sĩ? Cái máu ấy tạo ra những biểu hiện để gọi là chút tài tử, chút chịu chơi. Hải nói rằng con trai mười tám, đôi mươi có tính như con chim trống rướn cổ hót phô bày bản lĩnh trước lỗ tai của những chim mái; như gà trống, rướn cổ gáy, phô diễn khả năng trước sự cương trứng của gà mái; như công trống xòe sự rực rỡ, phơi sắc màu tình yêu trước ánh mắt của chim mái. Hải cũng tâm sự, hồi chưa vào lính, anh thường thức khuya, đàn hát như khoe cho hàng xóm biết tài của mình, hoặc để bọn con gái chú ý. Có lẽ, hầu như đàn ông trai trẻ đều có một thời như vậy! Nhưng rồi, khi vào lính, dù tính đàn ông con trai vẫn thế, nhưng sống có quy củ hơn. Ăn có giờ, học có giờ, tập có giờ. Chệch giờ giấc là bị kỷ luật ngay. Không một hai gì cả. Còn quần áo, mùng mền, chiếu gối đâu vào đó. Ngay ngắn, sạch sẽ, ngăn nắp. Giường nào cũng như thế, cũng răm rắp.    

       - Còn bức tranh được giải vừa rồi, cậu vẽ khi nào? Do đâu?

       - Khi nào à? Mình chỉ nhớ là mình nhớ biển, nhớ con sóng ở Trường Sa. Không biết làm gì để đỡ nhớ, mình lên mạng tìm những bài hát về biển đảo, về tháng Ba. Tình cờ mình xem một video về trận Hải chiến ở Gạc Ma. Xem mà mắt mình rưng rưng. Như có ai bóp tim mình. Như ai đó làm mình nghẹt thở. Vòng tròn ấy cứ ám ảnh mình từ đó!

       - À, ra vậy!

       Từ khi đạt giải, mỗi lần Thành phố có triển lãm tranh về chủ quyền biển đảo, Hải đều được mời gửi bức tranh đạt giải tham dự. Và lần nào cũng vậy, tôi tìm cách dàn xếp công việc, thời gian để chở Hải đến phòng triển lãm. Như mọi lần, tôi cùng Hải đứng trước tranh ngắm nghía. Hải nói như thấy Nhơn, Quân, anh Phương cùng đồng đội hiện về. Còn tôi, lần này, như thấy trong tranh, trước mắt mình, hiện lên là vòng lửa bất diệt, vòng của sự sinh tồn của đất nước, vòng của sự sinh sôi, nảy nở lòng yêu nước, vòng của sự kết đoàn toàn dân tộc. Trước mắt tôi là các chiến sĩ – những chàng trai nước Việt – nắm tay nhau làm cột mốc. Những gương mặt ánh lên lòng tự hào, sẵn sàng hy sinh vì biển đảo. Tôi như nghe đủ giọng nói của mọi miền Tổ quốc. Giọng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, giọng Khánh Hòa, Quảng Nam… Bắc, Trung, Nam có cả. Tôi như nghe họ hát. Tiếng hát của họ hòa vào sóng biển vang mãi ngàn năm cho con cháu Việt Nam biết một thời bi tráng của dân tộc.

       Đứng trước bức tranh “Vòng ký ức Tháng Ba” là mọi người và tôi. Nhìn sâu vào trong tranh, tôi nghe từ tiếng vọng từ bức tranh: “Thà hy sinh, chứ không chịu mất đảo!”.



Tháng 02/2016

Phan Trang Hy
( Phan Thanh Bình K5)




Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Tập Thơ GIỮA CHỐN TA BÀ


 Chúng tôi vừa nhận được tập Thơ GIỮA CHỐN TA BÀ của anh Huỳnh Văn Mười K7 do Nhà Xuất bản Tôn Giáo phát hành, in 1000 bản,  khổ 14,5 X 20.5 cm


Bước ra từ cõi hồng mông
Cuốn theo lớp lớp bụi hồng mà bay
Khóc cười lạnh buốt hai tay
Trăm năm một cuộc hiển bày thịt da
Có chi giữa chốn ta bà
Long lanh một giọt phù sa tặng đời
(Huỳnh Văn Mười )

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016

Ta ơi ! Chừ thiên thu!


Ta nghe chăng chừ biển động?
Trời chừ thu âm u
Bờ Cát Vàng mịt mù
Ta lần mò bãi Cát Dài hun hút

Ta tìm hoài tìm hủy
Ta tình thật _ đời biển lận
Ta tìm ai bóng cá nhỏ thơ ngây
Ta tìm ta tăm lặn biền biệt xa

Nghe chăng ai vọng lời ru
Thu ơi thu! Chừ thiên thu! Lộn mề
Nghe chăng ta cõi u mê
Chập chùng giăng bủa hoang khê lưu đày

Thạch Thảo viên, Wednesday, March 02, 2016
Vũ Đan Huyền K7

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN


  Nhân dịp cuối tuần, anh Đoàn Văn Thương K9 thư giãn với câu chuyện : 



                  TRÒ CHUYỆN VỚI QUAN MẤT CHIM..

-         Chào quan!
-         Vâng, chào phó thường dân!
-         Nghe nói quan mất…chim?
-         Sao anh biết 
-         Vì người ta huy động cả một hệ thống chính trị để tìm chim cho ngài nên phó thường dân tui hân hạnh được biết. Xin hỏi ngài: Chim của ngài nó ra làm sao ?
-         Anh hỏi để làm gì ?
-         Thì cũng để tìm giúp cho quan thôi…biết đâu tui gặp ngẫu nhiên!
-         Thế thì tui tả nhé…nó có lông màu đen, da của nó hơi…ngăm đen !
-         Thế thì nó cũng bình thường như chim của dân đen chúng tôi thôi, có gì đặc biệt đâu mà huy động lực lượng hùng hậu, kể cả PC 45 vào cuộc?
-         Vì đó là chim quý!
-         Tui thấy chim nào cũng là chim cả, dân đen chúng tôi cũng nuôi giống chim ấy đầy rẫy…
-         Anh này lạ, nó quí bởi vì nó là CHIM CỦA QUAN, còn CHIM CỦA DÂN thì là đồ bỏ, quí nổi gì, tui ví dụ nghe…chữ ký nào chả là chữ ký, mà chữ ký từ tay quan ký  có khác chữ ký từ tay dân ký không ? Chữ ký nào quí hơn ?
-         À, phó thường dân tui đã được quan khai trí cho, đa tạ quan…thì ra cũng chim đó, mà của quan thì nó là chim quí, còn của dân, thì chim đó chẳng là cái thể thống gì, hèn chi các bà dạo này bạo lực với chúng dữ, có bà còn vứt nó xuống hồ cho cá ăn nữa đấy.
-         Của đáng tội! Chim của dân đáng thương vậy sao ?
-         Vâng, chim của dân chúng tôi có mất cũng chẳng ai thèm đếm xỉa, mấy bà có bạo lực tàn nhẫn cũng chẳng ai quan tâm, có cho cá ăn cũng chẳng bị làm sao…xin hỏi quan… có tìm ra thủ phạm chưa?
-         Chim của quan là chim quí, nên lực lượng chức năng tìm ra ngay thội…
-         Chết mẹ mấy thằng dám… nghịch chim quan, cho chúng tù mọt gông bởi cái tội táy máy dám sờ vào chim của quan.
-         Phải kiên quyết xử lý để làm gương!
-         Vâng, cám ơn quan đã bỏ chút thời gian cho buổi phỏng vấn này, chúc quan luôn vui vẻ với chim của mình, và đừng để mất chim thêm lần nữa ! Xin chào tạm biệt quan !
-         Vâng, chào phó thường dân !
                                                                     LÃ BẤT THƯỜNG- K.9

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

BIỂN ĐÊM


Lặng yên nghe sóng rì rầm 
Đêm về biển hát, gọi thầm người thương
Gió đu đưa đẩy bờ dương
Chờ trăng chậm đến, hỏi trăng bận gì?
Sương đêm lấm tấm bờ mi
Đợi! Nghe sóng vỗ, thầm thì gọi tên 
Biển về đêm. Biển về đêm.


Phan Thanh Minh K9 


 

BIỂN


Khi nào biển mới lại trong xanh?
Thu đến Đông qua biển một mình 
Sóng cứ dạt dào miên man vỗ
Không một bóng người biển buồn tênh !
Xuân rồi đã đến biển một bên 
Xanh thẳm Trời cao ánh một nền
Hải âu tung cánh Thuyền Viễn Xứ 
Mình ta rong ruỗi mãi lênh đênh ..!!

 .
 Trần Ngọc Bích K8





CHÙM THƠ LÃNG MẠN ĐÓ ĐÂY của Trần Ngọc Anh K10


CAO NGUYÊN BỐN MÙA

Anh xa rồi em nhớ
Đi ở buồn chia ly
Khi bên nhau ước gì
Nghe mưa sầu “Ướt Mi”
Kon Tum mùa phượng vỹ
Hè về ai sầu bi
Cúc vàng mang thu lại
Lá đổ buồn lên mi
Em ơi xưa nhớ gì
Trời lập đông giá rét
Cơn mưa nào không dứt
Bùn đỏ vướng chân đi
Mùa xuân sắp qua đi
Ta bên nhau nói gì
Yêu,buồn,lo,thương,nhớ,..
Em về đi anh đi

GỞI LẠI KONTUM 
 
Ai chưa từng đến Kontum
Để nghe tiếng suối giữa rừng reo vang
Nghe gió hú giữa đại ngàn
Nghe trong sương lạnh hoàng hôn xuống đầy
Ai nghe tiếng vọng đâu đây
Con chim tu hú gọi bầy vào đêm
Ai nghe đuợc tiếng dịu êm
Của người con gái trước thềm chia xa
Nhớ rừng nhớ cả cỏ hoa
Nhớ trường, nhớ lớp diết da trong lòng
Kontum phố núi sao giăng
Đêm hè tĩnh mịch ánh trăng lưng đồi
Mai này người ấy xa rồi
Ai nghe tiếng nấc bồi hồi trong đêm
Thiết tha những chuỗi ngày êm
Tây nguyên bụi đỏ êm đềm KONTUM
NẾU ANH LÀ GIÓ NÚI
EM ĐƯỢC LÀM CƠN MƯA
Cuối xuân về phố núi
Gió vỗ về bên em
Nàng mây như hờn ghen
Để mặc nắng khắp miền
Đại ngàn như tĩnh lặng
Tây nguyên càng nóng thêm
Gió về mang hơi thở
Cùng ai đang buồn tênh
Mơ màng cơn mưa đổ
Cho trời chiều dịu êm
Cho hoa nở bên thềm 
Trả tháng ngày nhớ tên
Anh xin là cơn gió
Gọi mây trời lênh đênh 
Xua bóng nắng qua miền
Chở mưa về bên em
Trần Ngọc Anh K10

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2016

TỰ KHÚC 3


Cầm hòn đá cuội trên tay
Mấy nghìn năm tự lăn quay để tròn
Sóng cuồng mặt biển hoàng hôn
Bao nhiêu gió để gọi hồn nước dâng
Ta phơi một mảnh phong trần
Phải đâu nắng sớt một lần rồi khô
Tìm mình giữa chốn hư vô
Đợi chi đến lúc trên mồ cỏ lay
Cầm đèn bát nhã trên tay
Chuốt thân củi mục để ngày trầm hương

Tháng 2.2016
Huỳnh Văn Mười K7