Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

VỊNH LÃO TẬP


Lịch sử bày chi cảnh oái ăm
Đại bác rền vang đón Bắc Xâm!
Đến Việt bày trò vàng, hữu, hảo,
Sang Sing quen thói dọa, đe, ngăm,
Tống, Nguyên, Minh, Mãn bày tham vọng,
Lý, Trần, Lê, Nguyễn đối hùng tâm,
Đại Việt muôn đời không khuất phục,
Trời Nam Đông Hải mãi nghìn năm.


Vũ Đông Thám
( Võ Quang Khiêm K7) 
 

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN


Anh Đoàn Văn Thường K9 thư giãn  với BÌNH LOẠN ÂM NHẠC.

Thưa thiệt bà con… rằng trình độ âm nhạc của người viết bài này tầm cỡ “tốt nghiệp trường làng”, tuy không thể bình luận một vài tác phẩm âm nhạc nổi tiếng, nhưng có thể “bình loạn…xạ” được là do…”yếu tố khách quan”, do đó bà con cứ cười một cái cho đã, chứ đừng “bắt bẻ” đúng sai làm chi cho nó mất…dui, cũng xin các tác giả từ bi hỉ xả mà cười ha hả xả xui (xin lỗi tui dùng từ địa phương )chớ đừng kiện cáo gì, tội nghiệp cái thằng tui lắm…
- Thứ nhất, bài hát CHỊ TÔI của NS Trần Tiến, đã thổ lộ một điều quá cay đắng… “chị tôi trông dễ thương, bán rau chợ Cầu Đông, chị tôi chưa lấy chồng”…Rõ ràng là chị tui đẹp, chị tui dễ thương… nhưng chị tui vẫn ở giá, vì sao nông nổi ? Phải chăng chị tui bán rau ? Quả đúng như vậy, với dư lượng thuốc trừ sâu trên rau nồng nặc, lại thêm dùng thuốc tăng trưởng , vậy thử hỏi có anh nào dám tới gần,chứ đừng nói là…anh dũng làm…chồng !
Còn nữa… “cầu xây xong đã lâu, không thấy người về đưa dâu, để chị tôi ngóng trông, mắt lệ…nhòa…” Thôi thì đích thị là cầu do mấy cha PMU làm rồi, cầu xây dỏm, làm dối, chưa khánh thành đã lún, nứt tùm lum…con lạy mấy cha, con xin kiếu không dám đi qua, lỡ sụm bà chè là đời đen như cái đêm tắt đèn nhà chị Dậu…hèn chi đoàn rước dâu có uống thuốc liều cũng hổng dám qua, nên chị tui chờ dài cổ mà chấp nhận…ế chồng!
- Thứ hai, bài hát CHẢY ĐI SÔNG ƠI của NS Phó Đức Phương có đoạn gào lên ai oán… “ chảy đi sông ơi, chảy đi sông ơi…” đến nao lòng, thử hỏi vì sao vậy ? Ai có rảnh chạy ra bờ sông ở những đoạn dưới các nhà máy hoạt đông mà thiết kế quên mất côn đoạn xử lý nước thải xem thử, quớ trời quơi …chất thải chưa qua xử lý nó xả thẳng ra sông…cộng với thói quen ngàn đời văn hóa của dân ta là…mọi thứ không xài được đều đổ xuống đó hết, thành thử dòng sông “nặng phù sa” đến nổi chảy không đi, thấy tội, NS Phương năn nỉ…chảy đi sông ơi, chảy đi sông ơi, mà nó có chịu chảy đâu !
- Thứ ba, bài hát CÓ MỘT DÒNG SÔNG ĐÃ QUA ĐỜI của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn lại khác, NS Sơn đã đau khổ hơn nhiều khi nhìn thấy người ta “cố tình” giết chết một dòng sông, ý người viết không phải nói về dòng sông Hàn thơ mộng bên Hàn Quốc đâu nghe, mà là một dòng sông nào đó bằng cách đổ đất đá, xà bần...xuống để chôn sống nó, rồi sau đó đem phân lô, khai thác quĩ đất…chia chác ! “nhìn nhau ôi cũng như mọi người, có một dòng sông đã qua đời...” thôi đừng đau khổ nữa NS Sơn ơi, cứ để cho dòng sông nó chết, thay kệ nó ./.


THƯỜNG ĐOÀN. K9.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

SAY CA MÙI THUỐC SÚNG CHÀO MỪNG…


Mỗi tiếng nổ đì đùng
xóa đi một thế kỷ
Hai mươi mốt tiếng đì đùng
mang xã tắc về cùng thời Mã Viện…

Môi mềm lặng tiếng huyên thuyên
Kìa, như ai khóc trên thuyền tả tơi
Rượu còn ta nốc một hơi,
Lại người ướp đá từ khơi xa về…

Có bao tiếng đì đùng cho bảy mươi lăm anh hùng ngã xuống Hoàng Sa ?
Có bao tiếng cầu siêu cho sáu mươi tư linh hồn ôm lấy Gạc Ma ?
Một mình ngồi với tiếng ca,
lấy ly gõ gối ta pha giọng hờ
hờ hồn vất vưởng bơ vơ
có buồn cùng với ta chờ đêm tan…

Tiếng đì đùng có vọng về Hàm Tử ,
Có hồi sinh bầy quỹ dữ Chương Dương, 
Ải Chi Lăng, bến Vạn Kiếp quật cường ?
Hay tiếng đì đùng đì đạch vất vưởng chất thành gò, thành Đống ?

Đì đùng bắn vào trống đồng dựng nước,
Bắn vào núi, vào sông, vào mồ mả cha ông,
Bắn vào máu, vào tim, vào con cháu Lạc Hồng,
Đã đủ chưa ? Thế thì cười tươi hơn, hoặc bắn thêm một lần nữa…
Cho ta xin một ly rượu nữa,
Cho nguội lòng kẻo nổ xác thừa ta,
Thất phu lạc giữa quê nhà…
 Vugia K7 
 

ÁO TRẮNG NGÀY THƠ



Tặng Chị hồi xưa


Hàn giang sóng bạt phương mờ
Lộng bay áo trắng vờn mơ tím trời
Hàng me động khẽ lá rơi
Âm vang guốc gỗ mù khơi nhịp sầu

Ánh đạo vàng có phai màu
Thông vi vút gió hải âu gọi đàn
Mây bay biền biệt truông ngàn
Hoàng hôn sóng tụ hội tràng giang trôi

Nhớ xưa nhớ chỗ quen ngồi
Sân trường góc vắng và rồi nhớ thêm ...

Thạch Thảo viên, tháng ngày lửng quên.
Vũ Đan Huyền K7

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2015

Kính tặng những người vẫn là dân Việt...


Xưa máu đổ, dạy cháu con nhìn lại
hướng về tiên linh một thuở hào hùng,
Nay, máu cháu con tiền nhân lại đổ
Hồn tiên tổ ngoái nhìn - mắt rưng rưng…
Cháu con mất một phần xương máu,
Có sá gì so đất nước mất đảo, mất rừng ?
Đất nước dần mất rừng, mất đảo,
Nhục sao bằng tàn giòng máu chống ngoại xâm ?
Máu tiền nhân vẫn âm thầm chảy…

Vugia K7

CHỈ CÒN LÀ KỶ NIỆM


thật khẽ
bước chân chạm vào kỷ niệm
kỷ niệm xô về tràn ngập tim tôi
“kỷ niệm là những bông lưu ly ta hái trên đường đời khi được ép vào tim sẽ trở thành một bó hoa bất tử”
màu mực tím nghiêng nghiêng nét chữ
vẫn cứ nồng nàn say đắm trong ta
chất ngất bụi thời gian chưa thể xóa nhòa
một thuở vàng son , một thời áo trắng
kỷ niệm còn đây con đường ngập nắng
mắt nai tơ lúng liếng sân trường
lá thư yêu màu mực tím yêu thương
khẽ ép vào tim nghe lòng bối rối
chiều sân trường xác phượng hồng ngập lối
có một người lặng lẻ đứng bơ vơ
nhặt cánh hoa rơi chợt thấy thẩn thờ
thời gian vụt qua chỉ còn là kỷ niệm…

Nguyễn Tấn Lực K6
*Kỷ niệm là những bông lưu ly mà ta hái trên đường đời,khi được ép vào tim sẽ trở thành một bó hoa bất tử. Clara Smith Reber

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

CẢM TẠ


ĐỪNG CƯỜI NỮA, ĐỪNG VỖ TAY THÊM NỮA…


Khi Quốc Toản bóp nát trái cam,
Khi Hưng Đạo đại vương dàn quân Chương Dương, Hàm Tử,
Khi Diên Hồng hô vang lời “Quyết chiến!”
Là lúc “thái tử” Thoát Hoan chui trốn giữa ống đồng!
Đất nước bốn nghìn năm,
(Có lẽ không cần dài như thế!)
Chưa một ngày, một giờ, tiếp những tên cướp nước!
Hốt Tất Liệt, Chu Nguyên Chương, Càn Long, Đặng Tiểu Bình…
Chúng đến rồi đi, thoáng qua cơn ác mộng,
Đại Việt trường tồn, vạn đại nghìn năm,
Cớ sao, cớ làm sao?!
Hội nghị Diên Hồng hôm nay…
Tiếp một tên cướp nước,
Hội nghị Bình Than,
Không bóp nát quả cam…
Máu của bảy mươi lăm anh hùng trong trận chiến bảy tư,
Máu của sáu mươi tư liệt sỹ trong vòng tròn tám tám
Máu hàng nghìn ngư dân trong những cuộc đối đầu không cân sức!
Sẽ chảy về đâu, sẽ chảy đến nơi đâu?!
Chẳng lẽ Tổ quốc này…
Không biết khóc cho quê hương yêu dấu,
Chỉ biết cười và chỉ biết vỗ tay!!!
Máu của ngư dân,
Từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, Bình Tuy,
Từ Hoàng Sa, Trường Sa đến Lý Sơn yêu dấu,
Sẽ chảy về đâu, sẽ chảy đến nơi đâu?!
Đừng cười nữa, đừng vỗ tay thêm nữa,
Hội nghị Diên Hồng vang vọng mãi thiên thu…
Vũ Đông Thám K7ĐG

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

NHỮNG CON MẮT KHÁT VỌNG HÒA BÌNH


    
Giới thiệu tập NHỮNG CON MẮT BIỂN thơ văn viết về biển đảo (Hội Nhà văn Đà Nẵng và Nxb Đà Nẵng, 2015)                  


  “Những con mắt biển”, tập thơ văn viết về biển đảo do Hội Nhà văn Đà Nẵng xuất bản tháng 10 – 2015, là tình cảm của những công dân Việt Nam cầm bút đối với quê hương, đất nước.

       Gần 350 trang, với nhiều thể loại, từ những bài ký đậm chất chính luận kết hợp với tự sự, đến những bài thơ, tùy bút đầy chất trữ tình, từ những phóng sự vẫn còn tính thời sự, đến những truyện ngắn với những nhân vật, sự kiện… đã nói lên sự phong phú, đa dạng trong từng phong cách của người viết, nhưng tất cả đều thể hiện cái chung là tình yêu biển đảo, quê hương, con người Việt Nam.

       Đầu tập sách là “Biển Đông – biển của hòa bình”, ký của Bùi Văn Tiếng, và cuối tập sách là “Đảo gọi”, truyện ngắn của Phan Trang Hy, như gói gọn thông điệp, chuyển tải khát vọng hòa bình của dân Việt, cùng tình yêu biển đảo của mọi công dân để bảo vệ hòa bình trên biển Đông như lời dặn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Vạn lý Đông minh quy bả ác/ Ức niên Nam cực điện long bình.” (tạm dịch: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình.”).

       Khát vọng hòa bình, tình yêu biển đảo như lan tỏa từng trang viết. Dù nhiều cung bậc, cách nghĩ khác nhau, nhưng tất cả là đồng ca, là dõi nhìn một hướng. Tình yêu, khát vọng đã trở thành niềm tin trong mỗi người dân Việt, được nuôi dưỡng từ dòng lịch sử hào hùng của Như Nguyệt, Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa để mỗi chúng ta thấy tình yêu, hòa bình là thiêng liêng biết chừng nào, bởi đó là niềm tin chính nghĩa:

                “Tôi một lòng tin như mọi lần rồi bão dữ sẽ tan

                  Tổ quốc tôi lại mênh mang màu xanh từ đất liền ra biển đảo”

                         (Nguyễn Kim Huy, Bài thơ nhỏ tôi dâng lên Tổ quốc)

       Tình yêu quê hương, khát vọng hòa bình đâu chỉ ở người đang sống mà có cả ở hồn người đã khuất, hồn của những ngư dân, chiến sĩ hòa trọn hình hài vào biển Việt Nam:

                  “Các anh đang ở đâu giữa lòng biển khơi

                    Nghĩa trang quê nhà vẫn ghi tuổi tên, nhưng là những nấm mộ gió

                    Các anh bây giờ đã thành người thiên cổ…”

                             (Nguyễn Văn Tám, Hồn biển)

       Chính tình yêu, khát vọng hòa bình đã hóa thành tình yêu cụ thể về con người, vùng đất.

       Hình tượng “biển” trở thành hình tượng thơ từ khi nào chẳng rõ. Hình tượng ấy cũng đã ở trong thơ của Xuân Diệu, Xuân Quỳnh… Và giờ đây, hình tượng biển lại gắn liền với bi tráng của dân tộc, gắn tiếng lòng của thi nhân cùng biển:

                    “ Đất nước trăm con sông đều xẻ đường hướng biển

                     Trăm ngọn núi Trường Sơn đau đáu phía Trường Sa

                     Chiều chiều bước chân tôi thong dong trên cát

                      Nghe muối biển Đông thấm mặn thịt da mình”.

                                (Nguyễn Nho Khiêm, Biển)

       Đâu chỉ “nghe muối biển Đông thấm mặn thịt da mình” mà hồn của người dân Việt như đau nỗi đau tột cùng khi đảo quê hương rơi vào tay giặc. Nỗi đau ấy là thực như thời gian còn ghi trong bài ký “Gửi hồn ra biển Đông” của Văn Thành Lê: “Chiều 30 Tết Giáp Dần, 1974, đúng 3 ngày sau khi thất thủ Hoàng Sa, nhà thơ Phạm Lê Phan từ Gia Định cầm lòng không đậu đã viết Bài cho hải đảo hờn căm với những câu thơ thê thiết cháy lòng: Lời biển gọi cuối năm/ Hờn căm trừng mắt lửa/ Hỡi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa… Mẹ đứng mũi Sơn Chà/ Gửi hồn ra Đông Hải…”.

       Đó còn là con mắt yêu biển. Yêu biển gắn liền tình yêu Tổ quốc. Tổ quốc của ngư dân là biển cả. Cả tháng năm mưu sinh, lòng người dân làng cá gắn với vị mặn của biển, gắn với gió nồm, gió nam, gắn với đi khơi, đi lộng, gắn với những đêm lênh đênh trên biển. Và niềm tin ở họ là niềm tin về một ngày yên bình, về những ngày cùng lòng, chung sức trên vùng biển quê hương. Chính những ngư dân minh chứng hùng hồn về quyền làm chủ biển Đông. Bởi họ là: “Những con người quen với bão giông/ Quen với những lao đao, nhọc nhằn, gian khổ/ Quen với những cuộc tình dang dở/ Nhưng không quen nô lệ dẫu chỉ một ngày/ Ở quê hương tôi, ở đất nước này/ Có hàng triệu những con người như thế” (Phạm Minh Giang, Ngư dân).

        Đó còn là con mắt dõi về biển đảo, lòng “Nghĩ về biển đảo” (Lê Huy Hạnh). Đó cũng là tình yêu của những người quặn đau con chữ để viết về những người con giữ biển đảo. Này là hình ảnh người lính giữa trùng khơi hiển hiện hình hài như trong truyền thuyết cội nguồn dân tộc Việt: “Dáng người lính giữa đảo trời lồng lộng? Như từ trong từng trứng nở dần ra…” (Nguyễn Minh Hùng, Những quả trứng nở ra).

       Đó cũng là những con mắt hướng về Trường Sa, nơi đầu sóng ngọn gió, nơi người lính luôn vững chắc tay súng canh giữ biển trời. Nơi ấy, chắc rằng người lính đang chờ thư người yêu, nơi ấy chắc rằng bài hát về biển trời luôn vang vọng, nơi ấy có quả bàng vuông, có san hô, có những điều bình dị thấm vị mặn mồ hôi, và hòa cùng gió biển là mùi lính biển, mùi của ngư dân. Đó là “Sóng ở Gạc Ma” (Lê Thanh My), “Chiếc áo Trường Sa” (Lê Đào), “Viết cho người lính biển” ( Phạm Thị Phương Thảo), “Ký ức người lính đảo” (Sương Thu), và đó cũng là tình cảm với Trường Sa của Huỳnh Thúy Kiều, Võ Thị Hồng Tơ, Bích Chi Hoàng Kim, Quốc Long, Phạm Anh Xuân…

       Đó còn là con mắt luôn hướng về tương lai, dẫu biết rằng “Cơn bão ấy đi qua, còn bao cơn bão khác/ Chỉ phía bờ một hướng với nhau thôi/ Cuộc sống ở phía bờ trông cả ở ngoài khơi/ Không biết trước điều gì vẫn phải ra phía ấy/ Kinh nghiệm bão đổi chiều cho chúng ta lớn dậy/ Cùng ngư dân đi đánh bắt xa bờ” (Nguyễn Hưng Hải, Viết sau bão). Hướng về tương lai để tin vào thế hệ tương lai, thế hệ của những ngư dân trẻ, của những công dân biển với khát vọng vươn ra khơi xa, khát vọng luôn canh cánh bên lòng, khát vọng mặn nồng vị biển, để rồi, những đứa trẻ - công dân biển ấy tự biết mình những điều cần và đủ: “Những đứa trẻ cần được may áo mới/ Những đứa trẻ cần tự biết ra khơi” (Đinh Thị Như Thúy, Những đứa trẻ).

       Đó là con mắt ký sự viết về Hoàng Sa, Trường Sa, biển Đông. Mỗi con mắt có một cách nhìn. Có cái nhìn vào quá khứ, vào những gì đã qua, in dấu ấn “79 ngọn hải đăng trải dài dọc ven biển hình chữ S của đất nước”, dấu ấn của Nguyễn Đình Lạc, “người có cơ hội trở thành phóng viên ảnh đặt chân ra vùng biển Hoàng Sa sớm nhất (2004)” (Trần Trung Sáng, Ký ức những con mắt biển và Hoàng Sa – Trường Sa). Đó cũng là con mắt suốt cuộc hải trình “Ký sự Trường Sa” (Trúc Giang). Đó còn là phóng sự của Trần Công Khanh “Giữa Hoàng Sa cùng “Chiến mã” KN762”, là bút ký “Hướng ra biển lớn” của Nguyễn Thị Thu Sương, ký “Khi Tổ quốc nơi đầu sóng” (Thuận Tình), là “Để Bình Ba bình yên” (Chế Diễm Trâm)…

       Còn biết bao con mắt nữa! Con mắt của biển, con mắt tâm hồn của người viết về nỗi yêu thương, viết về biển, về tình yêu với biển, về những địa danh, con người trong những tình huống cụ thể. Đó là “Tổ quốc nhìn từ biển” (Nguyễn Việt Chiến), “Lính đảo” (Đỗ Như Thuần), “Từ biển” (Trần Mai Hường), “Chim biển” (Ngân Vịnh), …; đó cũng là “Tiếng của biển” (Hoàng Trọng Dũng), “Trường ca biển” (Hữu Thỉnh),“Dấu chân người lính biển” (Mai Hữu Phước), “Gửi nghìn trùng” (Nguyễn Nhã Tiên), “Hạnh ngộ biển” (Vô Biên), “Cuối năm với biển” (Trương Điện Thắng), “Điểm hẹn giữa trùng khơi” ( Nguyễn Sơn Trà), “Sóng” (Nguyễn Nho Thùy Dương), “Nhớ xóm chài quê” ( Hùng Cường), “Cảm nhận từ Lý Sơn” (Huỳnh Viết Tư), “Làng chài quê tôi” (Phạm Tuấn Vũ). Và đây là những con mắt của Trương Vũ Thiên An, Xuân Hiệu, Nguyễn Xuân Tư, Phạm Thị Ngọc Thạch, Lý Thị Minh Châu, Phạm Hồng Sương, Trần Xuân Thành, Bùi Công Khanh, Ngô Thế Lâm, Nguyễn Ánh Tuyết Trinh, Võ Khoa Châu, Phú Thiện, Hoàng Bạch Nga, Nguyễn Thị Anh Đào, Mai Văn Hoan, Vạn Lộc, Ngũ Hành Sơn, Nguyễn Nho Anh Tuấn, Hoa Hướng Dương, Trần Văn Thọ, Tường Huy, Nguyễn Hoàng Thọ…

       Đặc biệt, là con mắt ngóng về Hoàng Sa – quần đảo Cát Vàng. “Hoàng Sa trong trái tim người Đà Nẵng” (Bùi Văn Tiếng), Hoàng Sa trong trái tim người dân Việt! Nỗi nhớ về Hoàng Sa luôn canh cánh bên lòng. Đó là nỗi nhớ của những người từng một thời sống ở Hoàng Sa, “đất trời Hoàng Sa đã thấm máu thịt, thành một phấn cơ thể của họ” (Thu Sương, Hoàng Sa một thời tuổi trẻ). Hoàng Sa, hai tiếng thiêng liêng nào ai không gọi? Hoàng Sa một thời trong tim bao người dân Việt. Biết bao lần hai tiếng Hoàng Sa vang lên uất nghẹn trong lòng. Mãi mãi Hoàng Sa là của Việt Nam:

                 “Dẫu một nghìn năm sau và mãi mãi

                   Hoàng Sa muôn đời là máu thịt Việt Nam

                               (Đặng Hoàng Thám, Hoàng Sa trong tôi).

       Hoàng Sa mãi trong tim người Việt là thực, thực đến độ như Tổ quốc gắn liền với đất nước, gắn liền với biển đảo, thực như đồng bào ngư dân Việt xem Hoàng Sa là ngư trường nuôi vợ con, gia đình họ. Và ở họ cũng “Rọi nỗi đau lên hồn ta Hoàng Sa đất Việt/ Gió trời sóng biển trùng khơi vẫn từng đợt từng đợt vỗ về chân đảo biếc” (Trần Nguyên Thạch, Xin gửi Hoàng Sa). Và biết bao con mắt dõi về Hoàng Sa trong nỗi nhớ. Chỉ chớp giật biển xa, ta cũng giật mình vì nơi xa ấy là Hoàng Sa ruột thịt quê hương: “Chớp biển phía ấy/ Phía Hoàng Sa/ Bãi Cát Vàng sáng lên/ Phút chốc/ Ta kịp thấy lô nhô bóng quân xâm lược” (Thanh Quế, Đêm Đà Nẵng nhìn chớp giật biển xa).

       Nỗi nhớ Hoàng Sa là nỗi nhớ cụ thể, nỗi nhớ về một vùng biển trời, hải đảo mà trong tâm tưởng người Việt Nam ai cũng muốn một lần về lại Hoàng Sa. Nỗi mong chờ ấy, ước mơ ấy luôn âm ỉ trong lòng. Tôi cũng vậy! Và tôi chợt nghĩ về dân tộc Do Thái đã từng chào nhau See you next year in Jerusalem – hẹn gặp nhau  sang năm tại Jerusalem.” Và người Việt Nam cũng từng mơ một ngày nào đó về lại Hoàng Sa. Giấc mơ ấy có thành hiện thực? Cứ mơ! “Mơ về lại Hoàng Sa” (Phan Trang Hy, Hoàng Sa). Và cứ tin! Tin một ngày ta về lại Hoàng Sa: “Như đứa con xa/ trở về với mẹ/ bãi san hô gành đá Hoàng Sa/ sẽ trở về đất tổ quê cha/ Tôi sẽ đến Hoàng Sa/ bởi lẽ giản đơn, không thể nào không đến/ Tôi sẽ đến Hoàng Sa/ cho ngày vui trọn vẹn!/ Tôi sẽ về Hoàng Sa/ như về nơi chôn rau cắt rốn!/ Tôi sẽ về Hoàng Sa/ như tình yêu đã hẹn!...” (Lưu Trùng Dương, Nhớ Hoàng Sa). Và còn rất nhiều những câu chữ trải lòng với Hoàng Sa thân yêu. Những câu chữ ấy như những đợt sóng vỗ vào quần đảo Cát Vàng. Đó là những câu chữ của Hoàng Anh, Phương Hồng, Lê Anh Phong… như những con sóng quấn quýt Hoàng Sa.

       Những con mắt biển – những con mắt luôn dõi về biển Đông, dõi về Hoàng Sa, Trường Sa. Những con mắt đang ánh ngời ánh sáng tình yêu biển đảo Việt Nam. Chắc rằng, những giọng điệu mỗi người có khác nhau, âm vực khác nhau, nhưng điều quý là đều chung một tiếng lòng, tiếng lòng cất lên từ tâm hồn Việt khát vọng hòa bình.

       “Những con mắt biển” nhìn về một hướng: Biển Việt Nam! “Những con mắt biển” – những con mắt khát vọng hòa bình!



          Tháng 11 – 2015

            Phan Trang Hy
( Phan Thanh Bình K5)

 

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

PHÙ VÂN


ngang qua chùa lượm hồi kinh
về nhà đánh rớt cái mình buồn vui
áo đời em mở ra chưa?

ngoắc lên cành trúc cùng tôi cỡi trần
xin mời em ngắm phù vân
tiếc chi chiếc áo đang cần gió bay…


Phan Thanh Cương K8