Thú vị với cái tên đề mục “Tình Thơ Trong Cặp Thư Sinh”, bắt gặp trong tập Tình Xanh Mấy Nhánh của nhà thơ Lê Hân, tôi tìm đọc thêm những bài thơ tình viết cho học trò, viết trong tuổi học trò. Gõ vào ô search của yahoo, của Google, tôi đến được rất nhiều trang thơ. Tôi cũng không quên mở những cánh cửa của những sân chơi, mang tên những ngôi trường danh tiếng một thời.
Thơ, văn, hình ảnh từ những trang kỷ niệm ấy, quả thật đã giúp tôi hồi xuân. Và cụ thể hơn, tôi đã biết và tìm đến cùng thi phẩm Bỏ Trường Mà Đi.
Trên thị trường chữ nghĩa, bạn đọc tại Việt Nam, hình như còn mặn nồng với thi ca. Tại hải ngoại, nghe đâu chuyện này rất bi đát. Có lẽ vì vậy, những tập thơ được in trong nước, không chịu tìm đường xuất cảnh. Thế nhưng Bỏ Trường Mà Đi, từ ngàn dặm xa, đã đến được với tôi trong vóc dáng lành lặn, hoàn hão.
Cầm hai-trăm-năm-mươi trang thơ trên tay, chưa đọc, tôi đã thấy sung sướng. Lật qua lật lại, màu tím nhạt cùng hai bóng nón lá, áo dài, như kéo gần tôi lại với tháng ngày đã qua. Dù không vội vã khỏa lấp đi nỗi bồi hồi, tôi cũng lật từng trang.
Bỏ Trường Mà đi
thơ Trần Hoan Trinh
Trò Xưa thực hiện
Ba dòng trên mỗi dòng bốn chữ cũng bắt chợt thành thơ. Bạn không tin, mời đọc lại. Thơ hay không thơ nằm ngay trong lòng bạn. Với tôi, quả rất nồng nàn. Có chăng cảm nhận khởi từ một quen biết mơ hồ ?
Tác giả Trần Hoan Trinh, một tên gọi không lạ, dù tôi chưa được cái may mắn, tay bắt mặt mừng cùng anh một lần. Cần khai rõ và tin ngay, tác giả không là một học trò, mà là người chuyên đứng trên bục giảng. Bởi tôn trọng nội qui, tự đề ra khi viết bài, tôi đã vô phép gọi anh, thay vì gọi thầy hay ông cho phải phép. Thành thật xin lỗi.
Người thầy làm thơ này với tên căn cước: Trần Đại Tăng, một cái tên nghe rất giàu sức nặng. Nhưng vóc dáng xem ra cũng trung bình. Người tầm thước, không mập, không gầy, không giống Từ Hải, nhưng rất Kim Trọng. Anh được nảy mần từ đất kinh thành vua nhà Nguyễn, vào ngày 03 tháng 8 năm 1937, nhưng vào bén rễ, sinh sống trên lòng đất, quân Pháp bắn tiếng súng đích thực đầu tiên vào Việt Nam. Đây là bản lý lịch, anh quen tay, tự khai khá rõ:
“tôi lớn lên từ thằng bé con
cả ngày đi hoang trên những cánh đồng
hái trái, thả diều, bắn chim, bắt cá
đêm ngủ thấy mình cứ hóa tiên ông
tôi đổi thay làm đứa học trò
sách vở sớm chiều nửa học nửa mơ
lang thang phố phường tìm trăng đuổi bướm
để một đêm buồn bỗng ngồi làm thơ
rồi một ngày tôi trở thành thầy
đứng trước bảng đen, tóc phấn bay đầy
ngôi trường bình yên bên con sông nhỏ
giữa tiếng giảng bài nhiều khi ngất ngây...”
(Một đời thầy, một đời thơ, trang 44)
Thật tuyệt vời, thật đồng dạng với nhiều “nam nhi chi chí” một thời. Bắn chim. thả diều, bắt cá...tuổi ấu thơ của những thằng bé con Việt Nam sao mà đẹp thế. Và cái tuổi nhỏ của nhà thơ sao na ná... hư, giống tôi. Vừa học lại vừa mơ chả trách gì lớn lên phải làm thơ...tán gái. Có chút khác chăng là ở chỗ, tôi cũng có một thời gian ngắn, đứng trên bục giảng, nhưng chỉ tìm thấy ngất ngư chớ không được ngất ngây. Có lẽ vì vậy, tôi bỏ nghề gõ đầu trẻ khá sớm.Nghiệm ra rằng, thiên chức cao quí này, không phải ai cũng hoàn thành và hoàn thành tốt một cách hoàn hão. Trần Đại Tăng, ông thầy dạy toán trường Phan Châu Trinh, lừng danh một thời ở Đà Nẵng, trong một phút say thơ, đã thố lộ:
“cái bảng đen trước mặt
viên phấn nằm trên bàn
ngoài sân em xõa tóc
trên trời mây lang thang
này các em các em
hàm số ấy đồng biến
con chim gì trên cây
tiếng ca, trời xao xuyến
đoạn thẳng này thẳng góc
còn đoạn kia đoạn xiên
chiều qua người yêu khóc
mình nằm buồn cả đêm
vòng tròn, ờ, vòng tròn
- tròn như đôi mắt em
tròn như đôi mắt em
tròn như tình yêu em
những đường cong đan nhau
những đường cong khép kín
- kín như vòng tay anh
ôm trọn vòng lưng em ...”
(Dạy Toán, trang 32)
À ra thế. Đại số, hình học đâu có gì khô khan, đâu có gì mực thước. Vừa giảng bài vừa nhớ người yêu. Biết đâu người yêu ngồi ngay trước mặt. Biết đâu người yêu “ ... đến lớp không thuộc bài/ bị điểm không trong sổ/ nước mắt cứ chảy dài”. Biết đâu người yêu “... sách vở lem luốt mực/ bài làm được gì đâu/ thường lặng thinh cắn bút”; biết đâu người yêu “... áo quần luôn xốc xếch/ thầy thương em trẻ con/ hay vò đầu vuốt tóc...”
(Ngày Xưa Ngày Nay, 58).
Từ tình thầy trò, bước qua tình yêu nam nữ, đâu có gì cách trở chia ngăn. Ranh giới đạo đức đông phương được tháo gỡ dễ dàng, nếu có chân tình. Đức tính này, có sẵn trong trái tim con người dạy toán biết làm thơ, Trần Đại Tăng. Bởi biết làm thơ, nên anh không thể không lãng mạn, vẩn vơ trước hình ảnh:
“... em cắn bút bâng quơ
tóc nghiêng bờ vai nhỏ
tiếng chim như hững hờ
mơn man làn môi đỏ
trời bỗng dưng se lạnh
áo mỏng chừng phong phanh
tiếng chim theo chiếc lá
vừa nuối tiếc xa cành...”
(Tiếng Chim Ngoài Cửa Lớp)
“cô học trò nho nhỏ
sáng đi học một mình
chân tung tăng đường cỏ
lòng rộn ràng tiếng chim
cô học trò nho nhỏ
có má lúm đồng tiền
mơ màng bên cửa lớp
xinh như một nàng tiên
cô học trò nho nhỏ
đôi mắt đẹp buồn buồn
môi như hoa hồng đỏ
trông sao mà dễ thương
cô học trò nho nhỏ
mái tóc xõa dài dài
thả bay theo trời gió
cho sân trường liêu trai
cô học trò nho nhỏ
chiều qua phố một mình
thương ai mà giận dỗi
cứ làm hoài mặt nghiêm...”
(Cô Học Trò Nhỏ)
Cũng bởi biết làm thơ, nên tiếp tục không thể không trưng dụng cái lợi khí tay trái của mình, anh nhờ vần điệu tỏ tình:
“ cô học trò nhỏ ơi
thơ tôi không đủ lời
em là vầng trăng tỏ
giữa mênh mông cuộc đời”
(Cô Học Trò Nhỏ)